So sánh phiên âm và dịch thơ bài Tỏ lòng

articlewriting1
[ Văn mẫu 10 ] So sánh phiên âm và dịch thơ bài Tỏ lòng trong câu đề và câu thực để so với nguyên tác chữ Hán với câu thơ dịch đã bộc lộ được hết ý nghĩa chưa .Bạn đang muốn kiếm văn mẫu so sánh phiên âm và dịch thơ bài Tỏ lòng ? Cùng Đọc tài liệu tìm hiểu và khám phá những ý sau đây để làm rõ nhé :

So sánh phiên âm và dịch thơ bài Tỏ lòng

So sánh phiên âm và dịch thơ bài Tỏ lòng đa phần bộc lộ cách hiểu thâm thúy nhất ở trong 2 câu thơ : đề và thực ) của bài thơ :

Câu đề

“ Hoành sóc giang sơn kháp kỉ thu ” ( phiên âm )“ Múa giáo tổ quốc trải mấy thu ” ( dịch nghĩa )Ta thấy hai từ “ múa giáo ” chưa bộc lộ được hết ý nghĩa của hai từ “ hoành sóc ”. “ Hoành sóc ” là cầm ngang ngọn giáo mà trấn giữ giang sơn. Từ ý nghĩa lẫn âm hưởng, từ “ hoành sóc ” đều tạo ra cảm xúc kì vĩ và lớn lao hơn .Hình ảnh tráng sĩ hiện lên trong hành vi cắt ngang ngọn giáo với mục tiêu giữ gìn tổ quốc đã mấy thu rồi. Các bản dịch thơ dịch “ hoành sóc ” bằng “ múa giáo ”. Theo tôi, cách dịch như vậy là hay nhưng chưa có sức âm vang. “ Múa giáo ” bộc lộ sự điêu luyện, bền chắc, dẻo dai nhưng thiếu đi độ cứng rắn, can đảm và mạnh mẽ. “ Cầm ngang ngọn giáo ” khắc hoạ được tư thế hiên ngang, lẫm liệt, vững chãi của người trai thời Trần. Câu thơ nguyên tác dựng lên hình ảnh con người cầm ngang ngọn giáo trấn giữ quốc gia. Đó chính là dáng đứng của con người Nước Ta đời Trần .Trong câu thơ đầu này, con người Open trong toàn cảnh khoảng trống và thời hạn đều to lớn. Không gian mở theo chiều rộng của núi sông và mở lên theo chiều cao của sao Ngưu thăm thẳm. Thời gian không phải đo bằng ngày bằng tháng mà đo bằng năm, không phải mới một năm mà đã mấy năm rồi ( cáp kỉ thu ). Con người cầm cây tr ­ ường giáo ( cũng đo bằng chiều ngang của giang sơn ), lại được đặt trong một khoảng trống, thời hạn như thế thì thật là kì vĩ. Con ng ­ ười hiên ngang ấy mang tầm vóc của con ng ­ ười thiên hà, tổ quốc .

Câu thực

“ Tam quân tì hổ khí thôn Ngưu ” ( Phiên âm )“ Ba quân khí mạnh nuốt trôi trâu ” ( Dịch nghĩa )Câu thơ “ Tam quân tì hổ khí thôn ngưu ” có hai cách hiểu : Thứ nhất, ta hoàn toàn có thể hiểu là “ ba quân khí mạnh nuốt trôi trâu ”. Nhưng cũng hoàn toàn có thể lý giải theo cách khác, với cách hiểu là : Ba quân hùng mạnh khí thế át sao Ngưu. Có thể nói quân đội nhà Trần mạnh cả về trí và lực, không những nó có được khá đầy đủ binh hùng tướng mạnh mà còn có những vị đại tướng quân trí dũng song toàn ( như : Trần Quốc Tuấn, Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão, Trần Nhật Duật … ). Vì thế thật không quá khoa trương khi nói : cái khí thế ấy đúng là đủ sức làm thay đổi trời đất .

“Tam quân” là chỉ quân đội, dân tộc; “Ngưu” có nghĩa: là sao Ngưu, là trâu. Hình ảnh ba quân trong tư thế xông lên giết giặc với khí thế bừng bừng. Thủ pháp nghệ thuật so sánh vừa cụ thể hoá sức mạnh vật chất vừa hướng tới sự khái quát hoá sức mạnh tinh thần của “hào khí Đông A”. Câu thơ gây ấn tượng mạnh bởi sự kết hợp giữa hình ảnh khách quan và cảm nhận chủ  quan, giữa hiện thực và lãng mạn. Tác giả Trần Trọng Kim dịch là “Ba quân hùng khí át sao Ngưu”, còn Bùi Văn Nguyên dịch là “Ba quân khí mạnh nuốt trôi trâu”. Tôi thích cách dịch của Trần Trọng Kim, bởi lẽ dịch “Ba quân khí mạnh nuốt trôi trâu” nói được sức mạnh, khí thế dũng mãnh “Sát Thát” của quân đội, sẵn sàng lăn xả vào bọn giặc dữ một khi chúng tràn tới… nhưng chưa nói được tầm vóc. Hơn nữa dịch “át sao Ngưu”… câu thơ có lẽ giàu hình ảnh, gợi cảm hơn, kết hợp với câu thơ thứ nhất mở ra cả một không gian rộng lớn, vì thế ý thơ cũng giàu sức khái quát hơn.

Xem thêm : Phân tích bài thơ Tỏ lòng

Câu luận

“ Nam nhi vị liễu sự nghiệp trái ” ( Phiên âm )“ Công danh nam tử còn vương nợ ” ( Dịch thơ )Tỏ lòng là bài thơ nói chí. Đó là cái chí của những bậc đàn ông trong thiên hạ. Chính vì vậy, món “ nợ sự nghiệp ” mà nhà thơ nói đến ở đây vừa là khát vọng lập công, lập danh ( mong để lại tiếng thơm, sự nghiệp cho đời ) vừa có ý “ chưa triển khai xong nghĩa vụ và trách nhiệm so với dân, với nước ”. Theo ý niệm lí tưởng của trang đàn ông thời phong kiến thì sự nghiệp được coi là một món nợ đời phải trả. Trả xong nợ sự nghiệp mới triển khai xong nghĩa vụ và trách nhiệm với đời, với dân, với nước. Ở phần cuối của bài thơ, tác giả vẫn “ thẹn ” vì mình ch ­ ẳng đ ­ ược như Vũ Hầu Gia Cát Lượng, nghĩa là vẫn muốn lập công lập danh để giúp nước giúp đời .

Câu kết

“ Tu thính nhân gian thuyết Vũ hầu ” ( Phiên âm )“ Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ hầu ” ( Dịch nghĩa )Trong câu thơ cuối, nỗi “ thẹn ” đã biểu lộ vẻ đẹp nhân cách của người anh hùng. Phạm Ngũ Lão “ thẹn ” vì chưa có đ ­ ược kĩ năng mưu lược như Vũ Hầu Gia Cát Lượng ( Khổng Minh – đời Hán ) để giúp dân cứu nước, thẹn vì trí và lực của mình thì có hạn mà trách nhiệm Phục hồi giang sơn, quốc gia còn quá bộn bề. Nỗi thẹn của Phạm Ngũ Lão cũng là những day dứt của Nguyễn Trãi hay của Nguyễn Khuyến sau này. Đó là những nỗi thẹn có giá trị nhân cách – nỗi thẹn của những con người có nghĩa vụ và trách nhiệm với quốc gia, tổ quốc .

HếtTrên đây là một số ít luận về việc so sánh phiên âm và dịch thơ bài Tỏ lòng, mong rằng nội dung này sẽ giúp những em hiểu rõ hơn về bài thơ !

Xem thêm: Cảm nhận về bài thơ Tỏ lòng

0975893268
icons8-exercise-96 challenges-icon chat-active-icon