Tóm tắt, phân tích tác giả , tác phẩm – Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài – Nguyễn Huy Tưởng – Văn 11

articlewriting1
Lựa chọn câu để xem giải thuật nhanh hơn- Đóng góp lớn nhất ở hai thể loại : tiểu thuyết, kịch- Trong văn của ông luôn đầy chất thơ của đời sống và chất chứa những bài ca kỳ vọng, những bài học kinh nghiệm về tình thương yêu những người thân trong gia đình, xóm giềng, hội đồng và đồng loại .

Tác phẩm chính: Vũ Như Tô (kịch, 1941), Bắc Sơn (kịch, 1946), Những người ở lại (kịch, 1948), Đêm hội Long Trì (tiểu thuyết, 1942), An Tư (tiểu thuyết, 1945), Sống mãi với thủ đô (tiểu thuyết, 1961), Kí sự Cao Lạng (kí, 1951)…

Bao trùm lên sáng tác của nhà văn là nguồn cảm hứng lớn về lịch sử vẻ vang. Viết văn để tỏ lòng yêu nước, đó là triết lí sống và là quan điểm sáng tác của Nguyễn Huy Tưởng : “ Phận sự một người tầm thường như tôi muốn tỏ lòng yêu nước thì chỉ có việc viết văn quốc ngữ thôi. ”- Hòa bình 1954, ông làm Uỷ viên ban chấp hành Hội Nhà văn Nước Ta- Cách mạng Tháng Tám thành công xuất sắc, Nguyễn Huy Tưởng trở thành người chỉ huy chủ chốt của Hội văn hóa truyền thống cứu quốc .- Tiếp đó ông giữ chức vụ Tổng thư ký Ban Trung ương Vận động đời sống mới .- Tháng 8 – 1945, Nguyễn Huy Tưởng đi dự Đại hội quốc dân ở Tân Trào. Ông còn là đại biểu văn hóa truyền thống cứu quốc, giúp chỉnh sửa và biên tập những tờ báo Cờ giải phóng, Tiên Phong .- Sau đó ông liên tục hoạt động giải trí ở Thành Phố Hà Nội, Tỉnh Nam Định và Phúc Yên .- Năm 1943 ông gia nhập nhóm Văn hóa cứu quốc bí hiểm và được bầu làm Tổng thư ký Hội Truyền bá Quốc ngữ Hải Phòng Đất Cảng .- Năm 1938 ông tham gia Hội Truyền bá Quốc ngữ và trào lưu hướng đạo sinh ở Hải Phòng Đất Cảng .- Năm 1935 ông làm thư ký nhà Đoan ( Thuế quan ) ở Hải Phòng Đất Cảng, sau đó quay về TP. Hà Nội .- Năm 1930, ông tham gia những hoạt động giải trí yêu nước của người trẻ tuổi học viên ở TP. Hải Phòng .- Nguyễn Huy Tưởng ( 1912 – 1960 ), ông sinh ra trong một mái ấm gia đình nhà nho có niềm tin yêu nước ở làng Dục Tú, huyện Từ Sơn, tỉnh Thành Phố Bắc Ninh ( nay là xã Dục Tú, huyện đông Anh, Thành Phố Hà Nội ) .

II. Tác phẩm

1. Tóm tắt:

        Nhân vật chính của vở kịch là Vũ Như Tô, là một nhà kiến trúc tài giỏi, một nghệ sĩ có chí lớn, tính tình cương trực, trọng nghĩa khinh tài. Lê Tương Dực, một hôn quân bạo chúa, sai Vũ Như Tô xây dựng Cửu Trùng Đài để làm nơi ăn chơi với đám cung nữ. Vũ đã từ chối dù bị đe dọa kết tội tử hình. Song Đan Thiềm, một cung nữ tài sắc nhưng đã bị ruồng bỏ, đã khuyên Vũ nên nhận lời xây dựng Cửu Trùng Đài vì đây là cơ hội để Vũ đem tài ra phục vụ đất nước. Vũ đã nhận lời và dồn hết sức xây Cửu Trùng Đài. Nhưng Cửu Trùng Đài đã làm cho dân chúng thêm cực khổ. Họ đã nổi dậy. Vũ Như Tô bị giết, Cửu trùng Đài bị thiêu trụi.

2. Tìm hiểu chung

– Vở kịch “ Vũ Như Tô ” gồm 5 hồi viết về một sự kiện xảy ra ở Thăng Long khoảng chừng năm 1516 – 1517 .
– Tác phẩm được viết xong vào mùa hè năm 1941, tựa đề vào tháng 6 năm 1942 .

 Đoạn trích: thuộc hồi thứ V (Một cung cấm) của vở kịch.

3. Tìm hiểu chi tiết

a. Những mâu thuẫn và cách giải quyết trong đoạn trích

– Mâu thuẫn trực tiếp bộc lộ ở cuộc nổi dậy của binh lính và nhân dân chống lại triều đình : Đó là xích míc giữa đời sống xa hoa trụy lạc của Lê Tương Dực với đời sống cơ cực thống khổ của nhân dân lao động .
– Mâu thuẫn thứ hai là xích míc giữa ý niệm nghệ thuật và thẩm mỹ thuần tuý và quyền lợi thiết thực của nhân dân biểu lộ ở mục tiêu kiến thiết xây dựng Cửu trùng đài của Vũ Như Tô và của triều đình Lê Tương Dực .
+ Mâu thuẫn này đã dẫn đến cái chết của Vũ như Tô và sự ra đi của Cửu Trùng đài .
+ Vũ Như Tô là một kĩ năng nhưng chính vì không xử lý được xích míc giữa thẩm mỹ và nghệ thuật và đời sống mà ông đã thất bại .
=> Người chiến sỹ thiên tài có khát vọng, tham vọng muốn mang cái đẹp đến cho đời, làm dân tộc bản địa tự hào vì trong một xã hội thối nát, người dân đói khổ triền miên trong lầm than .
+ Hoàn cảnh quốc gia không tạo điều kiện kèm theo cho Vũ Như Tô thực thi điều đó
+ Vũ Như Tô nghe theo lời khuyên của Đan Thiềm mượn uy quyền, tài lộc của hôn quan Lê Tương Dực để triển khai khát vọng kiến thiết xây dựng khu công trình nguy nga
+ Niềm khao khát phát minh sáng tạo, góp sức lại đối nghịch với tình hình quyền lợi và mong ước của nhân dân .
– Cuộc đối thoại giữa Đan Thiềm và Vũ Như Tô ở lớp I của hồi kịch cho thấy Vũ Như Tô là một người nghệ sĩ chỉ biết vì nghệ thuật và thẩm mỹ .
+ Ông không hiểu và không xử lý được mối quan hệ giữa nghệ thuật và thẩm mỹ và đời sống .
+ Ông là người tài chứ chưa phải người hiền tài. Mâu thuẫn trái chiều ngay trong chính con người Vũ Như Tô .
– Mâu thuẫn giữa nhân dân với bọn hôn quân bạo chúa cùng phe phái của chúng được xử lý triệt để theo ý niệm của nhân dân :
Lê Tương Dực bị giết, Nguyễn Vũ – tự sát, đám cung nữ kẻ làm mưa làm gió nhục mạ, bắt bớ .
– Mâu thuẫn thứ hai quan điểm thẩm mỹ và nghệ thuật cao siêu, thuần túy với quyền lợi của nhân dân chưa được tác giả xử lý triệt để :
+ Vũ Như Tô tới lúc chết cũng không nhận ra lỗi lầm của mình

    + Vũ Như Tô không đứng về phía hôn quân, nhưng lại muốn lợi dụng quyền uy, tiền bạc của hắn để thực hiện ước mơ của mình.

– Những câu hỏi không có đáp án : Vũ Như Tô có công hay tội, ông đúng hay người giết ông đúng .
– Tác giả biểu lộ tâm tư nguyện vọng qua lời đề từ, cầm bút chẳng qua cùng một bệnh với Đan Thiềm, điều này là cách lí giải hợp lý .

b. Tính cách, diễn biến tâm trạng của Vũ Như Tô và Đan Thiềm

* Nhân vật Vũ Như Tô :
– Tính cách :
+ Là người nghệ sĩ tài ba, kiến trúc sư thiên tài, hiện thân của niềm khát khao và đam mê thẩm mỹ và nghệ thuật, cái đẹp và sự phát minh sáng tạo .
+ Là một người nghệ sĩ có nhân cách lớn, có hoài bão, có lí tưởng thẩm mỹ và nghệ thuật cao quý “ ngàn năm chưa dễ có một ”, “ chỉ vẩy bút chim hoa hiện lên mảnh lụa thần tình biến hóa như cảnh hóa công, sai khiến gạch đá như viên tướng cầm quân ”
+ Có những tâm lý lầm lạc trong hành vi : Muốn xây một công trinhf cho muôn đơi trong canh người dân đói khổ triền miên
– Diễn biến tâm trạng của Vũ Như Tô :
+ Tin rằng mình không có tội ; bướng bỉnh, ảo vọng đeo đuổi tiềm năng .
+ Đau đớn, bàng hoàng tuyệt vọng khi Cửu Trùng Đài bị tàn phá .
– Nhận xét : Vũ Như Tô đứng trên lập trường người nghệ sĩ mà không đứng trên lập trường của nhân dân .
* Nhân vật Đan Thiềm :
– Tính cách :
+ Là người đam mê cái tài, tôn thớ cái tài ( thuyết phục Vũ Như Tô, chuẩn bị sẵn sàng quên mình để bảo vệ Vũ Như Tô )
+ Tỉnh táo, thức thời hơn Vũ Như Tô : Biết chắc như đinh việc xây Cửu Trùng Đài không thành nên Đan Thiềm nhiều lần giục Vũ Như Tô chạy trốn
– Diễn biến tâm trạng của Đan Thiềm :
+ Đau đớn nhận ra sự thất bại trong giấc mộng lớn Cửu Trùng Đài .
+ Nhiều lần khuyên Vũ Như Tô chạy trốn ; đau đớn khi không cứu được Vũ Như Tô, vĩnh biệt Cửu Trùng Đài trong máu và nước mắt .
– Nhận xét : Đan Thiềm xứng danh là tri kỉ của Vũ Như Tô. Tuy rằng hiều đời, hiểu người hơn Vũ Như Tô tuy nhiên vẫn lâm vào thảm kịch ý thức đau đớn .

c. Lời đề tựa của tác phẩm

Trong lời tựa đề vở kịch, Nguyễn Huy Tưởng có viết :
” Than ôi ! Như Tô phải hay những người giết Như Tô phải ? Ta chắng biết. Cầm bút chẳng qua cùng một bệnh với Đan Thiềm ” .
– Đây là phần cuối của lời đề tựa vở kịch Vũ Như Tô do chính Nguyễn Huy Tưởng viết ngày 6 tháng 2 năm 1942, sau khoảng chừng một năm viết xong tác phẩm .
– Tựa là phần nằm ngoài văn bản của một tác phẩm, được viết ở đầu sách hoặc sau tiêu để của mỗi chương trong cuốn sách nhằm mục đích hướng người đọc vào ý đồ thẩm mỹ và nghệ thuật của tác giá hoặc tư tưởng của tác phẩm .
– Qua lời để tựa trên, Nguyễn Huy Tưởng đã thể hiện chân thành những do dự của mình :
+ “ Lẽ phải thuộc về Vũ Như Tô hay những kẻ giết Vũ Như Tô ? ”
+ Ông thú nhận ” Ta chẳng biết “, tức là không hề đưa ra một lời giải đáp thoả đáng .
+ Qua vở kịch, có thế thấy chân lí không trọn vẹn thuộc về phía nào : Việc mất Cửu Trùng Đài vừa nên mừng, vừa nên tiếc .
+ Đồng thời, nhà văn khẳng định chắc chắn : ” Cầm bút chẳng qua cùng một bệnh với Đan Thiềm “, tức là vì cảm phục ” tài trời “, vì nhạy cảm với thảm kịch của những năng lực siêu Việt .

d. Giá trị nội dung

Qua tấn thảm kịch của Vũ Như Tô, tác giả đã đặt ra yếu tố thâm thúy, có ý nghĩa muôn thủa về mối quan hệ giữa nghệ thuật và thẩm mỹ với đời sống, giữa lí tưởng thẩm mỹ và nghệ thuật thuần túy cao siêu muôn đời với quyền lợi thiết thân và trực tiếp của nhân dân .

e. Giá trị nghệ thuật

– Mâu thuẫn kịch tập trung chuyên sâu dẫn đến cao trào, tăng trưởng thành đỉnh điểm với những hành vi kịch dồn dập đầy kịch tính .

– Ngôn ngữ kịch điêu luyện, có tính tổng hợp cao.

– Xây dựng nhân vật kịch rực rỡ, khắc họa rõ tính cách, miêu tả đúng tâm trạng qua ngôn từ và hành vi .
– Lớp kịch trong hồi V được chuyển một cách linh động, tự nhiên, logic, liền lạc tạo nên sự mê hoặc và hấp dẫn người đọc .
Loigiaihay. com

0975893268
icons8-exercise-96 challenges-icon chat-active-icon